Hễ
là người Việt, dù giàu sang hay nghèo túng, không ai chưa từng biết đến
đôi đũa tre mộc mạc mang đầy ý nghĩa đậm đà trong linh hồn đất nước
ViệtNam Đôi đũa tre hầu như đã trở thành đặc điểm văn hóa Việt nam không
kém gì chiếc aó bà ba thân thương, tà aó dài duyên dáng hoặc món ăn
thuần túy canh chua cá kho tộ. Từ đồng quê cho đến thành
thị, từ những ngôi nhà lá chênh vênh đến những căn nhà cao tầng lộng
lẫy, không có gia đình nào thiếu đôi đũa tre trong các bữa ăn.
Trên
quê hương Việt Nam, tre là một hình ảnh thơ mộng, hầu như được mọc khắp
nơi, từ đầu ngõ, sau hè, bờ ao, cho đến bờ giậu hay đầu đình. Người dân
Việt khi trồng tre, họ không nghĩ đến kinh tế hay việc làm đẹp mà vì
lũy tre xanh ấy là bản thân, là linh hồn và đất nước quê hương của họ.
Vì thế, khi cầm đến đôi đũa tre, người dân Việt cảm thấy gần gũi với
thiên nhiên và nguồn cội đất nước cha ông hơn. Đũa tre tuy đơn giản mộc
mạc, nhưng đã nhắc nhở con cháu Việt Nam một cách âm thầm trong mọi lúc
về trách nhiệm yêu giống nòi và đất nước của mình trong các bữa ăn
Tre
mãi là nguồn cảm hứng vô tận của văn nhân thi sĩ đời đời. Không có hình
ảnh nào đẹp hơn lúc mà vầng trăng đang treo lơ lửng trên đầu ngọn tre,
với những chiếc lá xanh lay động theo chiều gió, lung linh dưới bầu trời
trong vắt. Từ ngàn xưa, ông cha ta dùng tre làm vũ khí đánh giặc giữ
nước và bảo vệ dân làng. Tre là bóng mát che chở trong cái nắng chết
người sau những giờ đồng áng mệt mỏi. Thậm chí đến khi ta chết, đòn tre
còn được sử dụng lần cuối cùng để khiêng ta ra phần mộ an nghỉ (Người ta
còng dùng đòn tre đóng vào đầu và chân của phần mộ, dùng những đọt tre
để treo phướng vào liễn trong lúc tiễn người chết…) Đây cho thấy, tre đã
mãi gần gũi với đời sống người dân Việt Nam từ thời để chỏm đến lúc lìa
đời.
Ngày
nay, ta thấy những loại đũa xuất hiện trên thị trường được làm bằng
nhiều thứ quí giá như vàng, bạc, ngà, mun. Những người dân nếu có mua,
thì cũng chỉ dùng để chưng bày, hay xài vào các dịp lễ lộc, còn hằng
ngày các gia đình vẫn xài đũa tre đơn sơ để ăn cơm theo truyền thống.
Đũa
tre nhà nào cũng giống nhau, chẳng khác gì một nhịp cầu kết hợp mọi
người con dân Việt như bộ đồng phục mang ý nghĩa bình đẳng tuyệt vời
trên khắp nước ta. Kho tàng ca dao tục ngữ Việt nam đã hơn một lần chứng
minh cho ta thấy về sự bình đẳng được biểu hiện qua đôi đũa theo văn
chương. Hai chiếc đũa phải bằng nhau, như tiêu biểu cho sự bình đẳng gắn
liền với đời sống nên có giữa hai vợ chồng:
Vợ chồng như đũa có đôi ( Thành ngữ)
Hai chiếc đũa lệch nhau giống như cặp vợ chồng có chiều cao không cân xứng . Cho nên ca dao có câu:
Ví dầu chồng thấp vợ cao
Như dôi đũa lệch so sao cho vừa ( Ca dao)
Từ
đây cho thấy, người dân Việt đã đi xa hơn rtong hình ảnh đôu đũa tre
nói về triết lý bình đẳng, cân đối xem như yếu tố không thể thiếu trong
vấn đề hôn nhân và tình bạn vững chắc. Điểm đặc biệt, kho tàng tàng Việt
Nam còn dùng đũa làm truyện ví dụ để dạy con cháu hiểu rỏ về sự đoàn
kết dùm bọc lẩn nhau của người Việt nam. Truyện kể rằng:
Ngày
xưa có moät ông già sinh bốn người con trai. Một hôm, ông để một bó đũa
và một túi tìền lên bàn rồi gọi các con đến bảo: “ Trong số các con, ai
bẻ gãy bó đũa sẽ được cha thưởng cho túi tiền nầy.”Nghe vậy bốn người
con lần lượt thử cầm bó đũa bẻ, nhưng người nào người nấy đều cố hết sức
mà vẫn không sao bẻ nổi bó đũa. Lúc ấy, người cha mới rút ra từng chiếc
đũa một, rồi bẻ gãy một cách nhanh chóng dễ dàng. Ông bảo “ Các con đều
thấy đó. Khi bị chia ra thì cái gì cũng yếu, nhưng khi hợp lại thì cái
gì cũng thành cái mạnh. Vì vậy các con phải yêu thương, giứp đỡ lẫn
nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.”
Bốn người con trai nghe xong vô cùng thấm thía lời cha dạy và cùng hứa sẽ đòan kết và mãi thương yêu lẫn nhau.
Qua câu truyện nầy, ta thấy rõ:
Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao(Tục ngữ)
Lịch
sử đôi đũa bắt nguồn từ năm nào thì vẫn chưa xác định được, tuy nhiên
các nhà khảo cổ đã đoán đôi đũa có lẻ xuất hiện đầu tiên tại Trung Hoa
cách đây hơn năm ngàn năm vào triều đại nhà Tần.
Ở
vùng quê Uyghurs, dưới đỉnh núi Mông Cổ, người ta đã phát hiện những
dấu vết về việc sử dụng đũa vào thế kỷ thứ 6 tây lịch từ những nhánh cây
tre bẻ thành đôi, rải rác nơi chốn ở của dân trại.[1]Ngày xưa dân ta
làm việc cần cù vất vả, nào có tế đủ kinh mua dao nĩa xa hoa đắc tiền?
Chỉ cần nhanh chóng bẻ một nhánh tre tạm dùng cho no bụng là đầy đủ qúa
rồi. Các món ăn của nông dân được nấu thành những miếng nhỏ dễ gắp, đồng
thời đễ tiết kiệm củi lửa và thời gian.
Có
người tin rằng thời xưa bởi Khổng Phu Tử ăn chay, ông đã cấm việc sử
dụng dao nía trên bàn vì nó mang tính chất tàn bạo đổ máu của chiến
tranh và hình ảnh tàn sát sinh mạng. Việc mổ xẻ thân xác thú vật dành
riêng cho lò sát sinh, không phải trên bàn trong các bửa ăn ấm cúng của
gia đình. [2] Ta không biết người Việt có ảnh hưởng tư tưởng này trong
việc dùng đũa hay không, ta chỉ biết rằng họ rất qúy mến, trân tro,ng và
gần gũi đôi đũa tre hơn cả người bạn chí thân của họ.
Tóm
lại, đôi đũa tre đơn sơ mộc mạc của văn hoá đất Việt luôn hiện diện
trong mọi nhà người Việt, luôn âm thầm nhắc nhở họ về tình yêu quê hương
đất nước, về sự đoàn kết và bình đẳng trong xã hội Việt nam. Mỗi giờ
ăn, trước khi ta dùng cơm, ta hãy nhìn vào đôi đũa tre thân thương kia
mà nhận ra ý nghĩa sâu sắc về tình gia đình, tình chồng vợ trong mối
quan hệ hài hòa, thuận thảo. Nhìn thật sâu vào đôi đũa tre, ta sẽ biết
mình nên làm gì trong bổn phận và trách nhiệm của một người con dân đất
Việt.
(Sưu Tầm)
Categories:

Đăng nhận xét